Từ ngày xa xưa đến ngày nay vẫn luôn quan niệm rằng, sinh con đối với phụ nữ chính là bước đến quỷ môn quan, nếu có bất kỳ bất cẩn nào thì sẽ khiến thai phụ đấy gặp nguy hiểm. Dù là trong tài liệu lịch sử hay phim truyền hình cổ trang đều trình bày cảnh tượng sinh con rất vất vả, có thể xảy ra những sự việc đau lòng như một xác hai mạng. nguyên nhân đẵn là do điều kiện thời kỳ này vẫn còn lạc hậu.
Như chúng ta đều biết, khi người nữ giới cổ đại chuyển dạ, người nhà của họ tìm đến 1, 2 cô đỡ giúp đỡ sinh con. Nghề bà đỡ xuất hiện từ thời Đông Hán, trước đó quá trình sinh nở thường phụ thuộc vào bản thân thai phụ hoặc các thành viên trong gia đình.
Các bảo sanh do đã từng mang thai và sinh con nhiều lần nên có nhiều hiểu biết về những vấn đề can hệ, họ có thể giúp mẹ tròn con vuông và giảm tỷ lệ thai phụ chết trong quá trình sinh nở. Họ có kiến thức y khoa nhất định và một số chiến thuật tâm lý giúp người mẹ dễ dàng sinh con hơn. Do đó, những cô mụ này được người dân rất nể trọng.
Quá trình đàn bà cổ đại sinh con cũng khá thích thú. Ngoài việc tìm cô mụ trước khi sinh, người nhà cũng cần chuẩn bị nhiều phương tiện đặc biệt, chẳng hạn như kéo, bồn gỗ, giấy rơm,...
Giấy rơm.
Nói về giấy rơm, chúng được dùng theo 1 cách biệt lập. Giấy rơm là một loại đặc biệt, độ dày rất lớn nhưng lại khá mềm và có khả năng hút nước mạnh. Vì màu của loại giấy này thường là màu vàng nên còn được gọi là giấy phân ngựa.
Lúc sinh con, người mẹ đứng hoặc ngồi chồm hổm giữa phòng, giấy rơm được đặt dưới thân người mẹ, chồng nhiều lớp giấy dày. Và sau đó, các bà mụ sẽ ôm người mẹ từ phía sau để ngăn họ ngã.
Nhưng tại sao phải là phong độ đứng hay ngồi chồm hổm? tư thế sinh con phổ thông của người xưa là đứng hoặc ngồi chồm hổm, vì chưng như thế thì dùng lực rất tốt, có lợi trong lúc sinh con. Tuy nhiên, phong thái này lại ít xuất hiện trên truyền hình.
cô đỡ sẽ 1 tay giữa người mẹ đúng tư thế từ phía sau, tay còn lại sẽ vuốt bụng bầu nhẹ nhõm từ trên xuống dưới. Bằng cách này, lực của người mẹ cùng lực nhẹ từ hộ sinh sẽ giúp đứa bé dễ chuyển di ra ngoài. Khi đứa bé được sinh ra, chúng sẽ từ từ rơi xuống tấm giấy rơm được lót bên dưới. Giấy rơm không chỉ tiếp thụ nước ối xung quanh trẻ lọt lòng mà còn có tác dụng giữ ấm và tránh thương tích khi rời khỏi thân thể mẹ.
Trong triều đại nhà Đường và nhà Tống, bà đỡ rất phổ quát. tuyển bà mụ trong cung lại cần phải có cả vóc dáng lẫn ngoại hình. Những người theo nghề này thường treo trước cửa bảng hiệu "khoái mã khinh xa, mỗ thị thu sinh" với hàm ý đến với thai phụ nhanh như xe ngựa và đỡ sinh con nhanh như chớp mắt.
Ảnh minh họa.
Vậy thì, tại sao khi đỡ đẻ, các cô mụ lại liên tiếp đề nghị nước nóng?
1. Lau sạch cơ thể người mẹ
nữ giới sinh con là chuyện không hề dễ dàng, nếu không chú ý sẽ dẫn đến chảy máu quá nhiều. Trong quá trình chuyển dạ, người nữ giới tốn rất nhiều năng lượng do đó rất dễ đổ mồ hôi. ngoại giả, dùng khăn nóng lau thân thể người mẹ có thể khiến cổ tử cung giãn ra và giảm đau khi sinh.
Thêm nữa, khi nước ối vỡ ra cũng ảnh hưởng đến tầm nhìn của bà mụ. Lúc này, họ sẽ dùng nước nóng để rửa sạch vết máu, nước ối bên ngoài và mồ hôi (từ người mẹ lẫn bà mụ).
Với một số người phụ nữ không tự chủ vấn đề vệ sinh trong lúc chuyển dạ, các hộ sinh cũng dùng nước nóng để lau rửa nửa thân dưới của người mẹ.
2. sát trùng
Vào thời cổ đại, không có thiết bị vô trùng chuyên nghiệp, do đó vô trùng bằng nước nóng đã trở nên phương pháp phổ quát nhất. Tình trạng nhiễm trùng là 1 trong những lý do khiến thai phụ tử vong trong lúc sinh đẻ. Để tránh nhiễm trùng, các hộ sinh luôn cần thay nước nóng liên tiếp.
vững chắc sẽ có người thắc mắc vì sao không sử dụng nước lạnh. Dù thời cổ đại, nước sông nước suối rất xanh trong nhưng trong nước vẫn có nhiều vi khuẩn. Nếu dùng nước lạnh thì sẽ khiến người mẹ dễ bị nhiễm trùng hơn, còn khiến thân người mẹ thêm co thắt khiến quá trình sinh đẻ gặp khó khăn.
ngoại giả, cơ thể nữ giới dễ bị tổn thương nhất là vào thời điểm này, khi tiếp xúc với nước lã sẽ gây hại cho thân thể, khiến khí lạnh có thể xâm nhập vào thân và để lại di chứng về sau.
Kéo và khăn được sử dụng trong khoảng thời gian đấy cũng phải được khử trùng bằng nước nóng.
Ảnh minh họa.
3. Làm sạch thân thể đứa bé lọt lòng
Khi đứa bé ra đời, xung quanh chúng có rất nhiều máu và phân. Lúc này rất cần nước nóng để vệ sinh, tránh để đứa bé bị cảm lạnh.
4. Ổn định nhiệt độ và độ ẩm trong phòng
Nước nóng có thể giúp tăng nhiệt độ trong phòng hiệu quả. Nếu nhiệt độ trong phòng quá thấp, trong quá trình đau đẻ, người mẹ sẽ dễ bị cảm lạnh. Căn phòng rét mướt sẽ có lợi trong quá trình chuyển dạ lẫn khi đón sinh mệnh mới chào đời, không khí quá khô sẽ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe đứa bé vừa ra đời.
Vì không có các thiết bị tiền tiến vào thời cổ đại, người xưa chỉ có thể dựa vào nước nóng để cải thiện không khí trong phòng.
Nguồn: Toutiao, Sohu